Bài viết
Những nhân chứng của lịch sử: Công đồng Ni-xê trong các nguồn tư liệu cổ đại
Nhân dịp kỷ niệm 1.700 năm Công đồng Ni-xê · Phần 2/3
Mục sư Tiến sĩ Glen L. Thompson
Wisconsin Lutheran Quarterly, Tập 122, Số 4 (Mùa thu 2025) · Phần 1 · Phần 2 · Phần 3
Eusebius, giám mục thành Sê-sa-rê
Nhân chứng thứ hai của chúng ta là Eusebius, người đã làm giám mục trong một thập niên tại thành phố quan trọng Caesarea Maritima (Sê-sa-rê) ở Pa-lét-tin, và vì thế là một trong những người tham dự nổi bật nhất tại Công đồng Ni-xê. Chính tại đó ông gặp Constantine lần đầu tiên, và có lẽ cũng chính tại đó ông lần đầu tiên đối diện với Marcellus thành Ancyra, một giám mục mà về sau ông sẽ viết hai quyển sách để chống lại Cơ Đốc học của vị này.
Quan điểm thần học của chính ông, vốn phần nào có cảm tình với quan điểm của Arius, đã khiến ông bị một công đồng gồm sáu mươi giám mục tại An-ti-ốt khiển trách chỉ vài tháng trước Công đồng Ni-xê.29 Bức thư công đồng còn lưu lại từ cuộc họp ấy nhắc chúng ta rằng, cho đến chiến thắng của Constantine vào giữa tháng 9 năm 324, hoàng đế phương đông Licinius đã cấm các công đồng giáo hội trong lãnh thổ của mình một thời gian. Đó là lý do một công đồng cần được triệu tập gấp, vì “tại nhiều nơi luật của Hội Thánh đã bị xao lãng, thậm chí bị khinh miệt, và các sắc lệnh đã được những công đồng khác thông qua đã bị một số người thế tục hoàn toàn phớt lờ.” Bức thư của công đồng có kèm theo một bản tín điều và những lời tuyệt thông đã được những người tham dự đồng ý—tất cả, nghĩa là trừ ba người, trong đó có chính Eusebius thành Sê-sa-rê. Bức thư cho biết rằng vì vậy, “tất cả chúng tôi, những người đồng chức vụ trong công đồng, đã quyết định không giữ sự thông công với những người này và xem họ là không xứng đáng được thông công, vì đức tin của họ khác với đức tin của Hội Thánh phổ quát.”
Như vậy, mặc dù là một trong những giám mục hàng đầu của toàn thể Hội Thánh nói tiếng Hy Lạp, Eusebius đến Ni-xê trong bầu không khí bị nghi ngờ. Để minh oan cho mình, ông đưa ra một bản tín điều mà ông cho là đã được cải thiện để công đồng xem xét. Tuy nhiên, dù không bị kết án, bản tín điều ấy vẫn bị xem là chưa đầy đủ, và vì vậy cuối cùng Eusebius có phần miễn cưỡng ký vào bản tín điều có chứa từ homoousion do công đồng soạn thảo và chấp thuận. Sau đó, ông viết một bức thư cho hội chúng và hàng giáo phẩm của mình để giải thích tại sao ông đã chấp nhận bản tín điều của công đồng. Chính Eusebius đã lưu giữ trong bức thư này cả bản tín điều của ông lẫn bản tín điều của công đồng.30
Eusebius trở về Sê-sa-rê và tiếp tục làm giám mục tại đó cho đến khi qua đời mười bốn năm sau, vẫn tích cực tham gia các công đồng giáo hội trong vùng và việc trước tác. Một thập niên trước Công đồng Ni-xê, ông gần như đã hoàn tất bộ Giáo hội sử nổi tiếng của mình. Về sau ông chỉ viết tiếp đến chiến thắng của Constantine trước Licinius năm 324, nên tác phẩm này không nói gì về Công đồng Ni-xê.31 Tuy nhiên, ít lâu sau công đồng, ông bắt đầu viết tác phẩm tán dương Cuộc đời Constantine, trong đó có phần mô tả công đồng và vai trò của hoàng đế tại đó (3.4–24).32 Tác phẩm này, còn dang dở khi ông qua đời năm 339, cho thấy niềm xác tín vững chắc của Eusebius rằng Đức Chúa Trời đã dấy hoàng đế lên vừa để mang lại bình an cho Hội Thánh bị bắt bớ, vừa để làm người bảo trợ thế tục đem lại sự hiệp nhất cho Hội Thánh; điều này khiến các học giả thận trọng khi đánh giá phiên bản của ông về sự tham gia, hành động và tâm tình của Constantine, kể cả những gì liên quan đến công đồng.
Đúng với mục đích của một tác phẩm tiểu sử hoàng đế, các chi tiết về những cuộc thảo luận thần học tại Ni-xê rất ít ỏi; thay vào đó, tác phẩm nhấn mạnh vai trò then chốt của Constantine trong việc tổ chức cuộc hội họp, sự tôn trọng của ông đối với các giám mục, sự tham gia tích cực của ông vào các chủ đề được thảo luận, và sự can dự liên tục của ông sau công đồng. Vì tác phẩm được viết khoảng một thập niên sau công đồng, không có lý do gì để nghi ngờ tính chính xác tổng quát của phần mô tả của Eusebius. Chẳng hạn, tác phẩm này là nguồn tư liệu sớm nhất của chúng ta về hai bức thư của Constantine liên quan đến công đồng: bức thư cuối năm 324 gửi Arius và Alexander nhằm giải quyết vấn đề mà không cần công đồng, và bức thư sau công đồng tuyên bố sự đồng thuận mới về việc cử hành Lễ Phục Sinh.33
Như đã nói ở trên, các khía cạnh thần học của công đồng hầu như không được nhắc đến, và chúng ta tìm kiếm vô ích trong tác phẩm Cuộc đời bất cứ điều gì về khía cạnh Cơ Đốc học của Công đồng Ni-xê. Tuy nhiên, đó là điều chúng ta nên dự liệu. Eusebius chưa bao giờ trở thành người ủng hộ mạnh mẽ Cơ Đốc học Ni-xê. Trên thực tế, ông đã tích cực chống lại một số người bênh vực Cơ Đốc học ấy. Cơ Đốc học là tâm điểm của cuộc tranh luận kéo dài hai năm giữa ông và Eustathius thành An-ti-ốt ngay sau công đồng, kết thúc bằng việc Eustathius bị cách chức. Trong khi đó, khi Marcellus thành Ancyra viết một tiểu luận vào khoảng năm 329 chống lại Eusebius thành Nicomedia và những người khác vì họ tiếp tục ủng hộ các niềm tin kiểu Arius, thì Marcellus cũng bị cách chức tại một công đồng ở Constantinople năm 336 do Eusebius thành Nicomedia chủ tọa.34 Vào thời điểm ấy, Eusebius thành Sê-sa-rê nhanh chóng viết tác phẩm Contra Marcellum để ủng hộ quyết định đã được đưa ra. Sau đó, khi Marcellus và các giám mục khác được phép trở về sau khi Constantine qua đời (337), Eusebius viết một quyển sách dài hơn chống lại Marcellus, Về thần học Hội Thánh. Như chúng ta có thể dự liệu, trong cả hai chuyên luận Cơ Đốc học này, Eusebius không hề nhắc đến Công đồng Ni-xê hay tín điều của công đồng, là những điều mà Marcellus hẳn đã bênh vực.35 Như vậy, sự đóng góp của Eusebius cho hiểu biết của chúng ta về Công đồng Ni-xê hầu như chỉ giới hạn trong tác phẩm Cuộc đời hoàng đế và bức thư ông gửi đi từ công đồng.
Phần mô tả của Eusebius
Dù vậy, ngay cả với những dè dặt nêu trên, tác phẩm Cuộc đời vẫn cung cấp một số thông tin hữu ích của người trong cuộc. Eusebius mở đầu phần viết về công đồng bằng việc cho biết công đồng được triệu tập vì hoàng đế lo ngại về những rối ren tại Ai Cập do một “tâm địa đố kỵ” gây ra và về cuộc ly giáo của phái Melitius tại đó (3.4), cũng như về “sự rối loạn rất nguy hiểm” gây ra bởi những khác biệt trong việc cử hành Lễ Phục Sinh (3.5.1). Ban đầu hoàng đế tìm cách giải quyết vấn đề Cơ Đốc học mà không cần công đồng, nhưng “bức thư của ông gửi các Cơ Đốc nhân tại A-léc-xan-đơ-ri đã không đem lại hiệu quả như mong đợi” (3.5.3). Chính lúc đó ông quyết định triệu tập một công đồng chung (σύνοδον οἰκουμενικήν), mời các giám mục từ khắp nơi (ἁπανταχόθεν) và khuyến khích họ sử dụng hệ thống vận chuyển của triều đình (3.6.1). Kết quả là một hội nghị lớn gồm các lãnh đạo Hội Thánh nổi tiếng—“số giám mục vượt quá 250, còn số trưởng lão, chấp sự và nhiều người tùy tùng khác thì không thể đếm xuể” (3.8).
Các giám mục lần lượt đến trong suốt tháng Năm, và hoàng đế cung cấp lương thực hằng ngày cho họ (3.9). Các nguồn tư liệu của chúng ta có nhắc đến những cuộc tranh luận không chính thức cũng như những cuộc thảo luận chính thức hơn về các vấn đề chính. Nhưng Eusebius bỏ qua tất cả những điều này và nói ngay đến việc hoàng đế chính thức đến vào giữa tháng Sáu. “Khi ngày đã định đến, là ngày công đồng họp để đưa ra quyết định sau cùng về những vấn đề đang tranh chấp, mọi thành viên đều có mặt cho việc này tại tòa nhà trung tâm của cung điện” (3.10.1). Eusebius cho thấy rõ rằng nhiều việc đã diễn ra trước ngày này, nhưng vị hoàng đế đã triệu tập công đồng rõ ràng muốn có mặt trong các cuộc thảo luận sau cùng.
Hội nghị ngồi chờ đợi hoàng đế đến trong sự háo hức. Ba thành viên trong đoàn tùy tùng của hoàng đế và một số “bạn hữu của đức tin” khác bước vào trước (3.10.2); rồi tất cả mọi người đứng dậy khi chính hoàng đế bước vào “như một sứ giả thiên thượng của Đức Chúa Trời . . . nổi bật bởi lòng mộ đạo và sự kính sợ Đức Chúa Trời.” Sau đó các giám mục mời hoàng đế ngồi, rồi họ cũng ngồi vào chỗ của mình (3.10.3–5). Một giám mục ngồi ở ghế danh dự đứng dậy đọc một bài diễn văn đầy chất thơ ca ngợi và cảm tạ Đức Chúa Trời vì hoàng đế (3.11). Eusebius không nêu tên vị giám mục đọc lời chào mừng này. Theodoret nói đó là Eustathius thành An-ti-ốt, trong khi Sozomen nêu tên chính Eusebius. Barnes xác định đó là Eusebius thành Nicomedia. Có lẽ đã có hơn một giám mục đọc diễn văn chào mừng.36
Sau đó hoàng đế được mời phát biểu. Eusebius đưa ra một bản tóm lược bài diễn văn của ông (“đại ý như sau” [τοῖον ἀπέδωκε λόγον] [3.11]), được đọc bằng tiếng La-tinh rồi được dịch sang tiếng Hy Lạp cho cử tọa phần lớn đến từ phương Đông (3.12.1–5).37 Trong bài diễn văn, Constantine lên án “sự xung đột nội bộ trong Hội Thánh của Đức Chúa Trời” và bày tỏ hy vọng rằng ông “có thể góp phần tìm ra phương thuốc cho điều tai hại này” (3.12.2–3). Ông vui mừng về sự hiệp nhất mà ông thấy quanh mình và thúc giục các giám mục “ngay từ giờ phút này hãy bắt đầu loại bỏ những nguyên nhân của sự bất hòa đã tồn tại giữa anh em, và gỡ bỏ những rối rắm của cuộc tranh cãi bằng cách đón nhận các nguyên tắc của sự hòa bình” (3.12.5).
Sau phần mô tả khá chi tiết về việc hoàng đế đến và bài diễn văn của ông, Eusebius gói toàn bộ diễn tiến sau đó trong một đoạn văn ngắn gọn:
[Constantine] cho phép những người chủ tọa công đồng trình bày ý kiến của mình. Liền đó, một số người bắt đầu cáo buộc những người bên cạnh, và những người này tự bào chữa rồi đến lượt mình lại cáo buộc ngược lại. Cứ như thế, vô số lời cáo buộc được mỗi bên đưa ra, và một cuộc tranh cãi dữ dội đã nổ ra ngay từ đầu công đồng. Dù vậy, hoàng đế kiên nhẫn lắng nghe tất cả mọi người như nhau, tiếp nhận mọi đề nghị với sự chú tâm bền bỉ, và thỉnh thoảng hỗ trợ lập luận của từng bên, ông dần dần đưa ngay cả những người tranh cãi kịch liệt nhất đến chỗ hòa giải. Đồng thời, nhờ lời lẽ ân cần với mọi người, và nhờ sử dụng tiếng Hy Lạp, là ngôn ngữ mà ông không hoàn toàn xa lạ, ông tỏ ra thật sự cuốn hút và dễ mến, thuyết phục người này, dùng lý lẽ khiến người kia tâm phục, khen ngợi những ai nói hay, và thúc giục mọi người đồng một tâm tình, cho đến cuối cùng ông đã thành công trong việc đưa họ đến chỗ đồng lòng và đồng ý kiến về mọi vấn đề đang tranh chấp. (3.13)
Thời gian kéo dài của những cuộc thảo luận này không được nêu ra, và người đọc dễ nhận thấy giọng văn tán dương khi Eusebius suy ngẫm về vai trò của hoàng đế. Điều chúng ta có thể xác nhận từ phần mô tả của ông là đã có những cuộc tranh luận nghiêm túc và sôi nổi về một số điểm, rằng đôi khi người ta trực tiếp thỉnh cầu Constantine, và rằng hoàng đế đã cố gắng làm dịu cuộc thảo luận và liên tục hướng nó về nhu cầu đạt được sự đồng thuận. Việc nhắc đến chuyện ông sử dụng tiếng Hy Lạp có lẽ đặc biệt ám chỉ sự tán thành của ông đối với việc chọn từ homoousios (ὁμοούσιος) trong các cuộc thảo luận Cơ Đốc học. Eusebius đã mô tả điều đó chi tiết hơn trong bức thư gửi hàng giáo phẩm của ông tại Sê-sa-rê đã được nhắc đến trước đây (Dok. 24 = Decr. 33):
[Constantine] khuyên mọi người có mặt đồng ý với nó [tức là bản tín điều của Eusebius], ký tên và tán thành các điều khoản của nó, chỉ thêm vào một từ duy nhất là “đồng bản thể với” [homoousios]. Ông giải thích từ này, nói rằng “Ngài [Chúa Con] ‘đồng bản thể với’ không theo nghĩa những gì chúng ta trải nghiệm nơi thân thể mình, như thể Chúa Con đã hình thành bởi sự phân chia hay tách ra khỏi Chúa Cha. Vì bản tính của Ngài không thể chịu bất cứ trải nghiệm nào của thân thể, bởi bản tính ấy không do vật chất cấu thành, hiện hữu trong cõi thuộc linh, không có thân thể. Vì vậy, những điều như thế phải được suy nghĩ theo các khái niệm thiêng liêng, không thể diễn tả bằng lời.” Đó là những nhận xét thần học của vị Hoàng đế rất khôn ngoan và rất mộ đạo của chúng ta; nhưng họ nhất quyết thêm từ “đồng bản thể với” và soạn ra bản tuyên bố sau đây. (7)
Rồi sau khi trích nguyên văn bản tín điều mà công đồng đã chấp thuận, Eusebius viết tiếp trong thư:
Trong khi công thức này đang được tranh luận, chúng tôi đã cẩn thận hỏi xem họ đưa vào cụm từ “từ bản thể của Chúa Cha” và “đồng bản thể với Chúa Cha” theo nghĩa nào. Qua việc chất vấn và giải thích kỹ lưỡng, ý nghĩa của các từ ngữ đã được xem xét cặn kẽ. Họ giải thích rằng cụm từ “đồng bản thể với” cho biết Chúa Con thật sự từ Chúa Cha mà ra, nhưng Ngài không phải là một phần của Chúa Cha. (9)
và ngay sau đó:
Vì vậy, khi suy xét điều này, chúng tôi thấy rằng có cơ sở để nói Chúa Con “đồng bản thể với” Chúa Cha; không giống như thân thể con người, cũng không giống như các loài hay chết, vì Ngài “đồng bản thể với” không phải bởi sự phân chia bản thể, hay bởi sự cắt ra một phần nào, hay bởi có điều gì tác động lên Ngài, hay bởi bị biến đổi, hay bởi làm thay đổi bản thể và quyền năng của Chúa Cha (vì bản tính của Chúa Cha không có khởi đầu cho sự hiện hữu của mình, và do đó không mô tả nào trong số ấy áp dụng được cho bản tính ấy). (12)
Như vậy, Eusebius tóm tắt lập trường của hoàng đế theo cách phù hợp với lý lẽ của chính ông trong việc chấp nhận homoousios. Dù chúng ta có thể hơi hoài nghi về mức độ chính xác khi Eusebius thuật lại lý lẽ của hoàng đế, lời chứng này dường như cho thấy hoàng đế đã thật sự tham gia vào cuộc thảo luận thần học, và có vẻ ông có hiểu biết nền tảng đáng kể về các vấn đề này. Một lần nữa, mối quan tâm của ông không chỉ là đạt đến một nền Cơ Đốc học đúng đắn, mà còn là đạt được sự hiệp nhất và hòa thuận.
Sau đó Eusebius kết thúc phần mô tả công đồng trong tác phẩm Cuộc đời Constantine như sau:
Kết quả [của các cuộc thảo luận] là họ [các giám mục] không chỉ hiệp một về đức tin, mà thời điểm cử hành Lễ Phục Sinh cũng được mọi người đồng ý. Những điểm mà mọi người đã đồng ý cũng được ghi thành văn bản và được từng thành viên ký tên. Sau đó hoàng đế, tin rằng như vậy mình đã giành được chiến thắng thứ hai trước kẻ thù của Hội Thánh,38 liền tổ chức một lễ khải hoàn để tôn vinh Đức Chúa Trời. (3.14)
Những “điểm mà mọi người đã đồng ý” và “được ghi thành văn bản” không chỉ là bản tín điều mà còn là hai mươi điều giáo luật của công đồng vẫn còn được lưu giữ.39 Sau đó Constantine mời tất cả các giám mục dự những yến tiệc và lễ hội xa hoa mừng hai mươi năm trị vì của ông, và đích thân tặng quà cho từng người (3.15–16). Cuối cùng, hoàng đế soạn một bức thư “bằng chính tay mình” gửi chung cho “các Hội Thánh”, thông báo cho họ các quyết định của công đồng. Tại điểm này, Eusebius đưa vào toàn văn bức thư, chủ yếu nói về chính sách đã được thống nhất cho việc cử hành Lễ Phục Sinh (Dok. 30; 3:17–20). Lưu ý rằng Eusebius không đính kèm những bức thư của hoàng đế liên quan đến Arius. Một lần nữa, tác phẩm Cuộc đời đáng bị chê trách vì những gì nó bỏ sót hơn là vì những gì nó thuật lại về công đồng.
Eusebius kết thúc bằng việc mô tả hoàng đế đọc một bài diễn văn cuối cùng với các giám mục trước khi họ lên đường trở về (3.21). Qua việc đặt nguyên văn bức thư trước ghi chép này, Eusebius dường như ngụ ý rằng các giám mục đã mang theo các bản sao của bức thư để phân phát cho những giám mục không có mặt. Eusebius cho biết ông trình bày đại ý của bài diễn văn từ biệt này;40 như có thể dự liệu, ông một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hòa thuận, hiệp nhất và khiêm nhường. Và Eusebius viết rằng quả đã xảy ra như vậy: “từ đó trở đi, sự đồng lòng trong phán đoán mà họ đã đạt được trước mặt hoàng đế tiếp tục được duy trì, và những người đã chia rẽ từ lâu được gắn kết với nhau như các chi thể của cùng một thân thể” (3.21).
Tuy nhiên, ông buộc phải điều chỉnh nhận định lạc quan này ngay trong phần kế tiếp của tác phẩm Cuộc đời, nơi ông thừa nhận rằng tại Ai Cập “cuộc xung đột dai dẳng vẫn còn hoành hành, đến nỗi một lần nữa làm xáo trộn sự yên tĩnh của hoàng đế,” đòi hỏi hoàng đế phải can thiệp thêm và gửi thêm những bức thư khác (3.23).
Xem tiếp tại Phần 3 →
Chú thích
29 Dok. 20. Công đồng này hẳn đã họp vào những ngày cuối cùng của năm 324, hoặc những ngày đầu tiên của năm 325, hoặc cả hai. Công đồng này không được biết đến trong tư liệu cho đến khi một bản chép tay tiếng Sy-ri của bức thư công đồng được Eduard Schwartz công bố năm 1905, trong “Zur Geschichte des Athanasius, V.”, 272–79 (văn bản tiếng Sy-ri và bản dịch ngược sang tiếng Hy Lạp; in lại trong Schwartz, Gesammelte Schriften, 3:136–43). Các câu trích dẫn lấy từ đoạn 4 và 14; bản tín điều của công đồng nằm ở đoạn 8–12, tiếp theo là những lời tuyệt thông ở đoạn 13.
30 Bức thư của Eusebius là Dok. 24 = Decr. 33. Bản tín điều của ông nằm ở đoạn 4–5, còn bản tín điều của công đồng nằm ở đoạn 8.
31 T. D. Barnes lập luận rằng các quyển 1–7 được viết xong vào cuối thế kỷ thứ ba, các quyển 8–9 được thêm vào sau cuộc Đại Bắt bớ vào năm 313/314, và quyển 10 được thêm vào ít lâu sau đó nhưng về sau được cập nhật để kết thúc bằng việc Constantine thống nhất đế quốc lần sau cùng vào năm 324 (Constantine and Eusebius [Cambridge, MA: Harvard University Press, 1981], 126–50).
32 3.4–24. Cùng khoảng thời gian viết Vit. Const., ông cũng soạn tác phẩm Contra Marcellum, vốn cũng liên quan đến Cơ Đốc học. Dù trong tác phẩm này ông không trực tiếp mô tả công đồng, một số đoạn trích từ cuộc tranh luận trước công đồng (Dok. 5, 10, 21) đã được lưu giữ trong đó, trong đó văn kiện 5 và 21 chỉ còn lưu lại nhờ cách này.
33 Dok. 19 = Vit. Const. 2.64; Dok. 30 = Vit. Const. 3.17–18.
34 Marcellus cũng từ chối chấp nhận việc Công đồng Ty-rơ cách chức Athanasius năm 335.
35 Tác phẩm Contra Marcellum là nguồn tư liệu của chúng ta cho hai hoặc ba Dokumenten trước công đồng. Trong những đoạn trích dài của Marcellus có lồng vào một số câu trích từ một bức thư của Paulinus (Dok. 5); từ một bức thư của Narcissus gửi Chrestus và những người khác (Dok. 21); và một đoạn trích từ chính bức thư của Eusebius gửi Euphration thành Balanea (Dok. 10).
36 Theodoret, Eccl. hist. 1.7.10; Sozomen, Eccl. hist. 1.19.2; T. D. Barnes, Constantine: Dynasty, Religion and Power in the Later Roman Empire (Chichester: Wiley-Blackwell, 2011), 121. Averil Cameron và S. Hall dường như cũng chọn Eusebius thành Nicomedia, cho rằng điều này có trong một tiêu đề chương (Eusebius: Life of Constantine [Oxford: Clarendon, 1999], 265), nhưng các ấn bản không có tiêu đề chương, và danh sách κεφάλαια chỉ ghi “Eusebius vị giám mục” trong ấn bản chuẩn của F. Winkelmann (Über das Leben des Kaisers Konstantin, tái bản lần 2, GCS, Eusebius Werke 1.1 [Berlin: Akademie-Verlag, 1991], 8). Tuy nhiên, mặc dù Nicomedia là một giáo phận quan trọng ở gần đó, và là nơi có một cung điện khác của hoàng đế, nơi Constantine lưu lại khá lâu trong thời gian Constantinople còn đang được xây dựng, mối quan hệ của hoàng đế với giám mục thành này (người từng ủng hộ Licinius; xem ở trên) khiến ông không phải là một lựa chọn đương nhiên cho nhiệm vụ này. Eusebius thành Sê-sa-rê, vì đang bị nghi ngờ kể từ Công đồng An-ti-ốt đầu năm đó, dường như cũng khó có thể là người được chọn. Vì vậy, có lẽ Eustathius thành An-ti-ốt là người có khả năng nhất trong ba người, hoặc có thể đã có hai bài diễn văn như vậy.
37 Một phân tích danh sách 220 giám mục tham dự cho thấy khoảng 90% đến từ các vùng nói tiếng Hy Lạp, 5% từ các vùng nói tiếng La-tinh và 5% từ các vùng nói tiếng Sy-ri.
38 Tác phẩm tiểu sử của Eusebius cho thấy rõ rằng hoàng đế đối địch Licinius là kẻ thù đầu tiên mà Constantine đã chiến thắng, và rằng Licinius cũng là kẻ thù của Hội Thánh.
39 Rufinus thành Aquileia đã dịch Eccl. hist. của Eusebius sang tiếng La-tinh rồi mở rộng thêm hai quyển, trong đó có nhắc đến Công đồng Ni-xê. Ông là người đầu tiên lưu giữ các giáo luật, dù chỉ cung cấp bản tóm lược của từng điều. Giáo hội sử vô danh, được biên soạn khoảng năm 475, dường như là nguồn tư liệu sớm nhất còn lưu lại có toàn văn các giáo luật.
40 τοιαῦτα μὲν ἐν πρώτοις παρῄνει, τέλος δ’ ἐπετίθει τὰς ὑπὲρ αὐτοῦ πρὸς τὸν θεὸν ἱκετηρίας ἐσπουδασμένως ποιεῖσθαι (3.21).

0 Bình luận