Bài viết

Những nhân chứng của lịch sử: Công đồng Ni-xê trong các nguồn tư liệu cổ đại

Nhân dịp kỷ niệm 1.700 năm Công đồng Ni-xê · Phần 3/3

Mục sư Tiến sĩ Glen L. Thompson

Wisconsin Lutheran Quarterly, Tập 122, Số 4 (Mùa thu 2025) · Phần 1 · Phần 2 · Phần 3

Athanasius, chấp sự tại A-léc-xan-đơ-ri

Athanasius đến dự công đồng với tư cách là một nhà thần học đang lên.41 Các sử gia thế kỷ thứ năm gọi ông là người phụ tá của Alexander (như Gelasius và Giáo hội sử vô danh) hoặc là cố vấn của Alexander (Rufinus), nhưng Gelasius nói rằng “mọi người đều thừa nhận rằng ông có phần trong đoàn ca của các bậc thánh ấy” tại Ni-xê.42 Trong Biện hộ thứ hai hay Biện hộ chống phái Arius, khi nói về chính mình ở ngôi thứ ba, Athanasius cho biết lòng “căm ghét ông” của những người theo phái Arius “càng gia tăng sau khi họ đã chứng kiến lòng mộ đạo của ông đối với Đấng Christ tại công đồng họp ở Ni-xê, vì ông đã mạnh dạn lên tiếng chống lại sự bất kính của những kẻ cuồng dại theo phái Arius” (6). Socrates viết rằng tại Ni-xê, những người theo phái Arius “đã bị Athanasius phản bác mạnh mẽ” (1.8.13), và Sozomen (1.17.7) cho biết Athanasius “dường như có phần lớn nhất trong việc bàn thảo” liên quan đến các giáo huấn của Arius. Tuy nhiên, không ai cung cấp chi tiết cụ thể, nên chính xác Athanasius đã tham gia như thế nào thì chúng ta không biết. Chỉ vài năm sau, khi ông kế nhiệm Alexander làm giám mục (năm 328 sau Công nguyên), chúng ta mới có thể bắt đầu lần theo quá trình ông vươn lên vừa trở thành người bênh vực hùng hồn nhất cho Công đồng Ni-xê, vừa trở thành mục tiêu hứng chịu mọi công kích rõ rệt nhất từ những người chống đối công đồng.

Mặc dù các tác phẩm thần học và biện giáo gần như ngay lập tức tuôn trào dồi dào từ ngòi bút của ông, phải một phần tư thế kỷ sau Công đồng Ni-xê, công đồng này mới trở thành một chủ đề chính trong các trước tác của Athanasius. Chẳng hạn, tác phẩm nổi tiếng Về sự Nhập thể của ông, dường như được viết ngay sau công đồng, không hề nhắc đến Arius hay công đồng,43 và ba tác phẩm Diễn từ chống phái Arius, được viết vào cuối thập niên 330 và đầu thập niên 340, cũng hầu như không nhắc đến. Chỉ đến tác phẩm Bảo vệ định tín Ni-xê (De decretis), một tập hợp các văn kiện được nối kết bằng những đoạn tường thuật ngắn vào đầu thập niên 350, điều này mới thay đổi.44

Sau một lời dẫn nhập ngắn, Athanasius viết:

Đây là điều đã xảy đến với Eusebius [thành Nicomedia] và các cộng sự của ông tại Công đồng Ni-xê: Vì họ ngoan cố trong sự bất kính và tìm cách chống lại Đức Chúa Trời, nên các thuật ngữ của họ hoàn toàn trái với đạo. Nhưng các giám mục nhóm họp, khoảng 300 vị, đã ôn hòa và nhân từ yêu cầu họ giải thích và bênh vực quan điểm của mình một cách tin kính. Tuy nhiên, họ vừa mới bắt đầu nói thì đã bị kết án, và người này bất đồng với người kia. Rồi, xấu hổ vì tà giáo của mình, họ im lặng, và qua sự im lặng ấy họ thừa nhận sự ô nhục đã đổ xuống trên giáo lý sai lạc của họ. Bấy giờ các giám mục, sau khi bác bỏ các thuật ngữ do họ bịa đặt, đã trình bày để chống lại họ đức tin lành mạnh của Hội Thánh. (Decr. 2.6–3.2)

Điều này xác nhận những gì Constantine đã viết cho Hội Thánh tại Nicomedia về những nỗ lực của giám mục họ là Eusebius nhằm cổ xúy các quan điểm phi chính thống của ông tại công đồng.45 Và rồi Athanasius viết thêm ngay sau đó:

Vì tất cả mọi người đều ký tên vào đó [tín điều Ni-xê], Eusebius và đồng bọn cũng ký tên vào đó, với chính những từ ngữ mà nay họ đang phàn nàn: “từ bản thể” và “đồng một bản thể” và rằng “Con Đức Chúa Trời không phải là tạo vật hay công việc được làm ra, cũng không phải là một trong những vật có khởi đầu, nhưng Ngôi Lời là Đấng được sinh ra từ bản thể của Chúa Cha.” Và điều thật lạ lùng là Eusebius thành Sê-sa-rê ở Pa-lét-tin, người hôm trước còn chối từ nhưng về sau đã ký tên, đã gửi một bức thư cho Hội Thánh của mình nói rằng đây là đức tin của Hội Thánh và là truyền thống của các Giáo phụ, và công khai tuyên bố rằng trước đó họ đã sai lầm và đã liều lĩnh chống lại chân lý. (3.2–3)

Ở đây chúng ta có được một chút thông tin quý giá về trình tự thời gian. Athanasius dường như đặt cuộc tranh luận với giám mục thành Nicomedia lên trước, tiếp theo ngay sau đó là cuộc thảo luận xoay quanh vị Eusebius kia (thành Sê-sa-rê). Ban đầu vị này từ chối chấp nhận bất kỳ lời tuyên bố nào có chứa thuật ngữ homoousios, và đưa ra bản tín điều riêng không có thuật ngữ ấy, nhưng rồi bản tín điều ấy bị bác bỏ. Sau đó, trải qua thêm một ngày thảo luận, ông được thuyết phục chấp nhận việc dùng homoousios và đồng ý ký vào tín điều của công đồng. Bức thư của ông gửi Hội Thánh tại Sê-sa-rê dường như cũng được gửi đi rất sớm sau đó.

Tác phẩm De decretis của Athanasius tiếp tục bằng việc chuyển sang phần luận giải thần học của chính Athanasius về những điểm Cơ Đốc học đang bị tranh cãi. Ông trở lại với Công đồng Ni-xê và những người ủng hộ Arius ở đầu đoạn 18, khi viết:

Bấy giờ Eusebius và các bạn đồng hành của ông trước đó đã bị chất vấn rất lâu và đã bị kết tội [về giáo lý sai lạc], như tôi đã nói trước đây. Nhưng lúc ấy họ đã ký tên, và sau khi đổi ý như vậy, họ giữ im lặng và rút lui. . . . Những cụm từ không thuộc linh nêu trên của những kẻ thù của Đấng Christ, cả khi ấy lẫn bây giờ, đều đã được chứng minh là hoàn toàn phạm thánh. Trái lại, những gì công đồng đã viết và xác lập để chống lại chúng, khi được xem xét kỹ lưỡng, sẽ thấy là tóm gọn trọn vẹn chân lý, nhất là nếu người ta chuyên tâm chú ý đến hoàn cảnh đã làm phát sinh những cách diễn đạt này, vốn là hợp lý. Hoàn cảnh ấy như sau. (18.1, 5)

Sau đó Athanasius giải thích cho độc giả đương thời của ông (khoảng năm 350) tại sao các bản tuyên bố giáo lý có thể dùng một cách chính đáng những từ ngữ không có trong Kinh Thánh, miễn là chúng được hiểu là truyền đạt những khái niệm phù hợp với Kinh Thánh. Rồi trong đoạn 19, ông giải thích tại sao công đồng quyết định đặt sau cụm từ ἐκ τοῦ πατρὸς μονογενῆ những lời giải thích τουτέστιν ἐκ τῆς οὐσίας τοῦ πατρός. Trong đoạn tiếp theo (20), ông kể lại việc những người theo phái Arius “bị bắt gặp đang thì thầm với nhau và nháy mắt ra hiệu rằng các từ ‘giống như’, ‘luôn luôn’, ‘quyền năng’ và ‘ở trong Ngài’, như trước đây, là [những cách diễn đạt] chung cho cả chúng ta lẫn Chúa Con, nên họ chẳng khó khăn gì mà không đồng ý với những từ ấy.” Kết quả là các giám mục chính thống “về phần mình lại buộc phải thu thập ý nghĩa của Kinh Thánh, rồi phát biểu lại và viết lại một cách chính xác hơn nữa điều họ đã nói trước đó, tức là Chúa Con là homoousios với Chúa Cha.” Ở phần kết của tiểu luận, sau lời tán dương cuối cùng về “lòng nhiệt thành đối với chân lý” của công đồng Ni-xê (32), ông đính kèm mười văn kiện, phần lớn từ năm 325 ngay sau công đồng, là những bản sao sớm nhất còn lưu lại của hầu hết các bức thư ấy.46

Một thập niên sau, khoảng năm 360, Athanasius viết một tác phẩm biện giáo khác, lần này là bản phân tích hai công đồng song song gần đây vào năm 359, Về các công đồng Ariminum và Seleucia (de Synodis). Trong tác phẩm này, ông cung cấp đoạn trích dài duy nhất còn lưu lại từ tác phẩm Thalia của Arius (15). Cuộc xung đột với phái Arius vẫn đang tiếp diễn đã khiến ông đưa vào các chứng cứ văn bản từ giai đoạn trước—bức thư đầu tiên của Arius gửi Alexander (16 = Dok. 1) cũng như một loạt các đoạn thư ngắn khác có niên đại trong những năm cuộc tranh luận đang phát triển (Doks. 6, 7, 11 và 16, tất cả đều nằm trong đoạn 17). Ông cũng cung cấp văn bản và phân tích cho tám bản tín điều của các công đồng sau này, tất cả đều nhằm thay thế tín điều Ni-xê. Vì vậy, chúng ta thấy nhiều điều đáng chú ý về bối cảnh của công đồng và cuộc tranh luận về thuyết Arius, nhưng lại có ít thông tin về chính công đồng. Tuy nhiên, tác phẩm này cho thấy vị thế của Công đồng Ni-xê tiếp tục được nâng cao. Các giám mục chính thống tại Công đồng Ariminum (Rimini) năm 359 được nêu lên làm gương vì đã tuyên bố: “Những lời kêu gọi mới đòi họp công đồng sẽ không còn lưu hành nữa, vì các giám mục tại Ni-xê đã đi trước chúng một lần đủ cả, và đã làm mọi điều cần thiết cho Hội Thánh phổ quát” (8). Trong các đoạn 36 và 45, Athanasius một lần nữa tóm tắt các cuộc tranh luận đã dẫn đến cụm từ “từ ousia của Chúa Cha” và homoousios, nhưng không thêm chi tiết mới nào.

Trong Thư gửi các giám mục Ai Cập và Li-by (361), Athanasius cảnh báo về việc lưu hành một bản tín điều mới nhằm “phủ bóng lên Công đồng Ni-xê và bản tuyên xưng đức tin khi ấy được đưa ra để chống lại tà giáo Arius” (5). Khi viết tác phẩm Văn kiện gửi dân An-ti-ốt vào khoảng cùng thời gian đó, nơi đang diễn ra một cuộc ly giáo nghiêm trọng, ông nói rằng khi tìm cách đạt đến sự hiệp nhất thì không nên đòi hỏi điều gì hơn ngoài việc chấp nhận Tín điều Ni-xê (4). Năm sau, trong một bức thư gửi vị hoàng đế trẻ mới lên ngôi là Jovinian, Athanasius cũng khuyên ông “hãy học nơi chúng tôi đức tin của Hội Thánh phổ quát, . . . đức tin đã được các giáo phụ tuyên xưng tại Ni-xê” (1), bảo đảm với ông rằng đức tin ấy chứa đựng đức tin “đã được rao giảng từ thuở xa xưa” và rằng “các Hội Thánh ở khắp mọi nơi” đều tán thành đức tin ấy (2). Ông kết thúc bằng việc đính kèm chính bản tín điều (3).47

Khoảng năm 369, vị giám mục cao niên viết một tiểu luận quan trọng sau cùng, Thư gửi các giám mục châu Phi, một lần nữa tuyên bố rằng các giám mục tại Ni-xê đã hít thở “tinh thần của Kinh Thánh” (5) khi họ lên án các giáo huấn của phái Arius.48 Họ đã dạy rằng “Ngôi Lời không phải là một sự sáng tạo/tạo vật” (4) và lên án các ý tưởng của phái Arius cho rằng Ngôi Lời được tạo dựng từ hư không (như phần còn lại của công trình sáng tạo), rằng đã có một thời Ngài không hiện hữu, và rằng về bản tính Ngài có thể thay đổi (5). Các giám mục ấy đã “thu thập từ Kinh Thánh những phân đoạn” cho thấy các giáo huấn này là sai, và họ không làm điều này tự sức mình, nhưng còn nhờ “lời chứng của các giáo phụ” (6). Ngay cả Eusebius thành Sê-sa-rê cũng đã buộc phải thừa nhận với Hội Thánh nhà của mình rằng homoousios đã được các giáo phụ chính thống trước đây sử dụng (6). Vì vậy, ông có thể kết luận rằng “công đồng Ni-xê này thật sự là lời bác bỏ mọi tà giáo,” và ông thậm chí mở rộng điều này sang các giáo huấn về Đức Thánh Linh, vốn đến cuối thập niên 360 đã bắt đầu trở thành một điểm tranh cãi.

Tóm lại, chúng ta có thể nói rằng mặc dù khối trước tác đồ sộ của Athanasius bổ sung ít chi tiết mới một cách đáng ngạc nhiên, chúng xác nhận một cách tổng quát bức tranh của chúng ta về công đồng. Chúng cũng ghi lại tầm quan trọng ngày càng lớn được dành cho công đồng và tín điều của công đồng như là những chuẩn mực của sự chính thống. Như ông nói về Công đồng Ni-xê trong một bức thư khác năm 370, lần này gửi cho một người tên là Epictetus, Công đồng Ni-xê “là tượng đài chiến thắng trên mọi tà giáo, nhưng đặc biệt là tà giáo Arius” (1).49

Eustathius thành An-ti-ốt

Chính Giáo hội sử của Theodoret (1.7.18–8.6) cung cấp một đoạn trích ngắn về công đồng từ người tham dự thứ tư, Eustathius thành An-ti-ốt. Trong khi giải thích Châm Ngôn 8:2250 trong một tác phẩm chống phái Arius, Eustathius đưa ra một hồi ức ngắn về các biến cố tại công đồng. Sau khi xác nhận rằng đã có một cuộc tranh luận gay gắt với Eusebius thành Nicomedia, ông cho biết Eusebius này cũng đã đưa ra một bản tín điều. Lời của Eustathius được trích dẫn như sau:

Khi công đồng lớn nhất được triệu tập tại Ni-xê, khoảng 270 giám mục đã nhóm họp. . . . Khi họ bắt đầu khảo sát bản chất của đức tin, bản công thức của Eusebius [thành Nicomedia] được đưa ra. Nó chứa bằng chứng không che đậy về sự phạm thượng của ông. Việc đọc công khai bản ấy khiến cử tọa vô cùng đau buồn, vì nó đi lệch khỏi đức tin, đồng thời đem lại sự hổ thẹn vĩnh viễn cho tác giả của nó. Sau khi bè đảng của Eusebius đã bị kết tội rõ ràng và văn bản bất kính của họ đã bị xé bỏ trước mặt mọi người, một số người trong họ, viện cớ gìn giữ hòa khí, đã hùa nhau làm im tiếng tất cả những người diễn thuyết có tài nhất. Những kẻ cuồng Arius,51 sợ rằng mình sẽ bị một công đồng gồm đông đảo giám mục như vậy trục xuất khỏi Hội Thánh, liền vội vàng đứng ra tuyệt thông và lên án các giáo lý đã bị lên án, và họ đồng lòng ký tên vào bản tuyên xưng đức tin. Như vậy, họ đã giữ được ngôi vị giám mục của mình bằng sự lừa dối đáng hổ thẹn nhất, dù lẽ ra họ phải bị cách chức.52

Các giáo luật và bức thư của công đồng gửi Hội Thánh tại A-léc-xan-đơ-ri (Dok. 25)

Như chúng ta đã thấy, hoàng đế đã gửi các bức thư của triều đình để thông báo các quyết định của công đồng đến các Hội Thánh khác nhau. Hai mươi điều giáo luật hay nghị quyết được thông qua liên quan đến những vấn đề thực tiễn hơn cũng được phổ biến rộng rãi. Chúng cho chúng ta biết rằng nhiều vấn đề khác cũng đã được thảo luận, liên quan đến các khía cạnh khác nhau về tiêu chuẩn của hàng giáo phẩm (giáo luật 1), việc tấn phong và kêu gọi họ đúng cách (2, 4, 9), cách cư xử đúng đắn của họ (3, 15–18) và việc cách chức họ (5, 10). Các chính sách về điều hành và giám sát Hội Thánh ở cấp khu vực cũng đã được thảo luận và thống nhất (6–7). Các cách thức để thu nhận trở lại những tín hữu đã sa ngã theo nhiều cách khác nhau (11–14), những người theo Paul thành Samosata đã ăn năn (19), và hàng giáo phẩm ly giáo của phái Novatian cũng đã được thống nhất (8). Những cuộc thảo luận này không được nhắc đến trong các tường thuật của nhân chứng, vốn tập trung vào ba vấn đề chính trong chương trình nghị sự—Arius, phái Melitius và việc cử hành Lễ Phục Sinh.

Cuối cùng, còn lưu lại một bức thư khác được viết nhân danh công đồng và gửi riêng cho Hội Thánh tại A-léc-xan-đơ-ri, tâm điểm của một số vấn đề then chốt được giải quyết. Athanasius (Decr. 36) và một số sử gia Hội Thánh về sau53 đã lưu giữ bức thư này. Dù một lần nữa bức thư cho chúng ta rất ít thông tin mới, nó xác nhận bức tranh mà các nhân chứng khác đã được bàn ở trên trình bày: rằng chính Constantine đã triệu tập công đồng; rằng công việc đầu tiên là xem xét, trước mặt hoàng đế, “sự bất kính và việc làm sai trái của Arius và những kẻ theo ông”; rằng công đồng đã đồng lòng quyết định tuyệt thông ông cùng những lời tuyên bố theo tà giáo của ông (và hai người theo ông không chịu ăn năn là Theonas thành Marmarica và Secundus thành Ptolemais) (3); rằng công đồng cũng đã giải quyết “những hành động liều lĩnh của Melitius và những người được ông tấn phong” (5) và rằng, “vì động lòng thương xót,” công đồng đã cho phép ông giữ vị trí của mình và đưa ra những cách thức khoan dung để thu nhận trở lại hàng giáo phẩm thuộc phe ông (6–10); rằng việc cử hành Lễ Phục Sinh cũng đã được “thống nhất” và “được giải quyết tốt đẹp nhờ lời cầu nguyện của anh em” (12); rằng tất cả các quy định và quyết định khác sẽ được giải thích cho các tín hữu tại A-léc-xan-đơ-ri bởi “đấng bề trên của chúng tôi, người đồng chức vụ rất đáng kính và là anh em của chúng tôi, Alexander, vì ông đã dự phần trong mọi việc chúng tôi đã làm, và thật ra còn là một người dẫn đầu” (11).

Phần mô tả chi tiết về chương trình tái hội nhập dành cho Melitius và hàng giáo phẩm của ông là thông tin mới có giá trị nhất. Chính Melitius được phép giữ danh hiệu giám mục, nhưng vì “hành vi hỗn loạn trước đây của ông và vì tính cách liều lĩnh và hay thay đổi của ông,” ông không được phép tham gia bất kỳ lễ tấn phong nào hay can dự vào bất kỳ công việc nào khác của Hội Thánh bên ngoài thành phố của mình (6, 10). Những người được ông tấn phong phải được hàng giáo phẩm hợp pháp tại địa phương (tức là thuộc Hội Thánh phổ quát) tấn phong lại, và sau đó họ có thể tiếp tục phục vụ trong các chức vụ trước đây của mình, dù họ phải phục tùng hàng giáo phẩm đã được Alexander bổ nhiệm đúng cách (7). Họ phải làm mọi việc với sự đồng ý của các giám mục và hàng giáo phẩm thuộc Hội Thánh phổ quát tại địa phương. Nếu một giáo sĩ thuộc phái Melitius như vậy tỏ ra vâng phục thủ tục này, thì khi giáo sĩ thuộc Hội Thánh phổ quát ở cấp trên ông qua đời, ông có thể được thăng lên thay thế, nhưng chỉ khi có sự cho phép của giám mục A-léc-xan-đơ-ri (9).

Lưu ý rằng mặc dù cả Arius lẫn Melitius đều bị xem là những kẻ khơi mào sự chia rẽ, và cả hai đều bị công đồng nêu đích danh là cực kỳ lầm lạc và gây rối cho Hội Thánh, họ đã được xử lý theo hai cách rất khác nhau. Với Arius, đó là vấn đề giáo lý, nên ông và những người theo ông không chịu ăn năn về sự giảng dạy của mình đã bị lên án và tuyệt thông. Với Melitius, đó là vấn đề trật tự Hội Thánh và cách ứng xử anh em, nên “vì động lòng thương xót” (6), ông và hàng giáo phẩm của ông được mở cho một con đường trở lại với Hội Thánh, cũng như phái Novatian trong giáo luật 8.

Kết luận

Dù chúng ta có thể mong có thêm nhiều tường thuật của nhân chứng về công đồng lớn đầu tiên của Hội Thánh, những tường thuật chúng ta hiện có đủ để xác nhận tường thuật tổng quát của các sử gia Hội Thánh thời kỳ đầu, là những người đã đưa ra những bức tranh đầy đủ hơn một thế kỷ sau đó. Nghiên cứu này đã cố gắng thành thật về những thiếu sót của các tường thuật ấy. Người ta có thể hiểu tại sao những ai muốn hoài nghi về bất kỳ hiểu biết chắc chắn nào đối với các biến cố này vẫn có thể thỏa mãn ý muốn đó. Tuy nhiên, dù thiếu chi tiết ở nhiều lĩnh vực, những mảnh ghép mà chúng ta có vẫn khớp với nhau, cho dù chúng ta có nhiều mảnh trùng lặp và những mảnh khác đã bị thất lạc. Chúng ta có rất ít bằng chứng cho thấy nhiều người chống đối Cơ Đốc học Ni-xê đã công khai đặt nghi vấn về những gì đã diễn ra. Chỉ có Philostorgius, người viết vài thế hệ sau đó, cho rằng đã có sự ép buộc nào đó từ phía những người chính thống, và ngay cả ông cũng đồng ý rằng những người theo phái Arius đã ký vào tín điều tại đó một cách giả dối.54

Khi kỷ niệm 1.700 năm công đồng và tín điều của công đồng, chúng ta có thể làm điều đó với lòng tin chắc rằng chúng ta biết những nét chính về những gì đã diễn ra và những gì đã được quyết định tại đó. Nhờ công sức của tất cả các nhà biên tập hiện đại, giờ đây chúng ta cũng có các ấn bản phê bình của mọi nguồn tư liệu cổ đại cần thiết để nghiên cứu—cùng với những bản dịch tiếng Anh hợp lý, dù đã phần nào cũ. Chắc chắn đó không phải là một cuộc hội họp hoàn hảo, nhưng việc công đồng này đang được gần như mọi nhánh của Hội Thánh trên đất tưởng nhớ với lòng tạ ơn là một minh chứng cho tầm quan trọng của nó. Bản tín điều sẽ được sửa đổi đáng kể năm mươi sáu năm sau đó, nhưng vẫn giữ nguyên cấu trúc cơ bản và thuật ngữ đã được đúc kết vào năm 325. Các giám mục tại Constantinople năm 381 và các giám mục của những công đồng đại kết tiếp theo đều khẳng định chắc chắn rằng ở hình thức sau cùng, đó vẫn là tín điều Ni-xê. Và ngày nay chúng ta vẫn đúng khi xem nó như vậy.

Chú thích

41 Có ý kiến cho rằng bức thư công đồng đầu tiên của Alexander thành A-léc-xan-đơ-ri, Ἑνὸς σώματος (Dok. 2.2, khoảng năm 320), vốn trình bày rõ các giáo huấn của Arius, thật ra đã được Athanasius viết, khi ấy ông vẫn còn là chấp sự trẻ tuổi của vị giám mục và có lẽ là thư ký của ông.

42 Gelasius, Eccl. hist. F12; Giáo hội sử vô danh 2.11.8; Rufinus, Hist. 10.5. Socrates cũng nói rằng tại Ni-xê, những người theo phái Arius “đã bị Athanasius phản bác mạnh mẽ”, ngụ ý rằng ông đã đóng một vai trò quan trọng tại đó (Eccl. hist. 1.8.13).

43 Tác phẩm Về sự Nhập thể khó xác định niên đại. Tác phẩm không hề nhắc đến cuộc tranh luận về thuyết Arius, nhưng nếu được viết trước khi cuộc tranh luận ấy bắt đầu, thì khi viết, Athanasius hẳn vẫn còn ở tuổi thiếu niên. Còn nếu ông viết sau đó, tại sao ông không nhắc đến cuộc tranh luận về thuyết Arius, nhất là khi tiểu luận này bàn đến những chủ đề đang được thảo luận trong cuộc tranh luận ấy? Barnes (Athanasius and Constantius: Theology and Politics in the Constantinian Empire [Cambridge: Harvard University Press, 1993], 13) đưa ra giả thuyết rằng Athanasius đã viết tác phẩm này ít lâu sau Công đồng Ni-xê (khoảng năm 326–28), khi trong một thời gian ngắn dường như cuộc tranh luận đã được giải quyết. Theo quan điểm này, Athanasius đã dùng cơ hội ấy để thể hiện tài năng thần học của mình khi ông dự liệu rằng mình sẽ kế nhiệm Alexander làm giám mục A-léc-xan-đơ-ri (điều đã xảy ra vào năm 328). Ông không nhắc đến cuộc tranh luận vì Arius đang bị lưu đày và việc bác bỏ ông ta là không cần thiết.

44 Văn bản phê bình là của Opitz trong Athanasius Werke 2.1–2, tr. 1–45. Tác phẩm Decr. có lẽ được viết khoảng năm 352 cho Liberius, vị giám mục La Mã vừa mới được tấn phong. Vị giám mục La Mã này đã nhận được một bức thư của các giám mục theo phái Arius ở phương Đông lên án Athanasius về nhiều tội danh khác nhau, và Decr. là bản biện hộ bằng văn bản của Athanasius.

45 Xem phần trên về Dok. 31 = Decr. 41.1–17, đặc biệt là đoạn 14–15.

46 Bộ hồ sơ này gồm (theo thứ tự) thư của Eusebius thành Sê-sa-rê gửi hội chúng của ông (Dok. 24), hai bức thư của Alexander thành A-léc-xan-đơ-ri (Dok. 2.1, 2.2), thư của công đồng Ni-xê gửi Hội Thánh tại A-léc-xan-đơ-ri (Dok. 25), bản tín điều của công đồng (Dok. 26), và năm bức thư của Constantine được viết ngay sau công đồng (Dok. 29, 28, 27, 31, 32). Chỉ có hai bức thư đầu tiên của Alexander chống lại Arius là không thuộc giai đoạn ngay sau công đồng. Điều thú vị là hai bức thư mà Eusebius đưa vào Vit. Const. (Dok. 19, 30) không được Athanasius lặp lại, có lẽ cho thấy ông cho rằng độc giả của mình đã quen thuộc với tác phẩm tiểu sử hoàng đế Constantine của Eusebius.

47 Gửi các giám mục Ai Cập và Li-by = Athanasius Werke 1.1, 1–64 (tiếng Hy Lạp) và NPNF2 4:223–35 (tiếng Anh); Tomos ad Antiochenos = Athanasius Werke 2.8, 340–51 và NPNF2 4:483–86; Epistula ad Jovianum = AW 2.8, 352–56 và NPNF2 4:567–68.

48 Văn bản tiếng Hy Lạp trong Athanasius Werke 2.8, 322–39 và bản dịch tiếng Anh trong NPNF2 4:488–94.

49 CPG 2095 (G. Ludwig chủ biên, Athanasii epistula ad Epictetum [Jena: H. Pohle, 1911] và PG 26:1049–69; bản dịch tiếng Anh trong NPNF2 4:570–74 [Ep. 59]): “Đức tin được các Giáo phụ tuyên xưng tại đó [tại Ni-xê] theo Kinh Thánh thiêng liêng tự nó đã đủ để lập tức đánh đổ mọi sự bất kính và thiết lập niềm tin đạo đức nơi Đấng Christ. . . . Trong Hội Thánh phổ quát không nên viện dẫn công đồng nào ngoài công đồng đã được tổ chức tại Ni-xê” (1).

50 “Trong buổi Đức Giê-hô-va khởi cuộc tạo-hóa, Về thời thái-cổ, trước khi chưa dựng nên muôn vật thì Ngài đã có ta” (Châm Ngôn 8:22, bản Truyền Thống 1925).

51 Nếu tác phẩm này của Eustathius được viết trước khi ông bị một công đồng cách chức vào năm 330, thì đây sẽ là lần đầu tiên thuật ngữ miệt thị này được dùng (trong những tư liệu còn lưu lại) để chỉ Eusebius thành Nicomedia và những người khác ủng hộ các tư tưởng tương tự như của Arius.

52 Theodoret, Eccl. hist. 1.7.18–8.6, người kết luận: “đây là những lời của Eustathius vĩ đại.” Mặc dù Eustathius chỉ nói đến Eusebius, đoạn văn này hẳn phải ám chỉ vị giám mục thành Nicomedia, người về sau trở thành lãnh đạo của những kẻ theo tà giáo sau khi Arius qua đời, chứ không phải Eusebius thành Sê-sa-rê. Bối cảnh rộng hơn trong tường thuật của Theodoret cũng cho thấy rõ điều này.

53 Socrates, Eccl. hist. 1.9; Theodoret, Eccl. hist. 19.2; Giáo hội sử vô danh 2.34.2.

54 Philostorgius (Bidez, Philostorgius, 1.9) cho biết Eusebius thành Nicomedia, Theognis thành Ni-xê và Maris thành Chalcedon đã “đào ngũ” khỏi các đồng chí thuộc phái Arius để theo lập trường của công đồng, nhưng “đã làm điều đó bằng mưu mẹo” và đã “che giấu” niềm tin homoiousios của họ khi dùng thuật ngữ homoousios.

Mục sư Tiến sĩ Glen L. Thompson được phân công đến Lusaka, Zambia, nơi ông phục vụ trong 6 năm (1977–1983). Trong thời gian theo học ngành lịch sử cổ đại tại Đại học Columbia, ông đã thành lập hội thánh WELS đầu tiên tại thành phố New York. Hai niềm đam mê song hành của ông (truyền giáo/truyền bá Phúc Âm và nghiên cứu học thuật) tiếp tục định hướng sự nghiệp của ông khi ông giảng dạy tại Michigan Lutheran Seminary và Wisconsin Lutheran College, đồng thời khởi xướng chương trình mà nay là Viện Nghiên cứu Mục vụ (Pastoral Studies Institute) của WLS. Năm 1999, ông được mời giảng dạy cho SALEM tại Hồng Kông, và điều này mở đầu cho một loạt chuyến giảng dạy, để rồi sau cùng ông phục vụ toàn thời gian tại Asia Lutheran Seminary với tư cách Trưởng khoa Học thuật kiêm Giáo sư Tân Ước và Lịch sử Hội Thánh (2011–2020). Khi nghỉ hưu, ông tiếp tục giảng dạy trong công tác truyền giáo thế giới và chương trình Grow in Grace của WLS, đồng thời nghiên cứu, viết sách và điều hành các trang web www.fourthcentury.com và www.PaulineRoads.com. Nhiều sách của ông có thể được xem trên trang tác giả của ông tại Amazon.

Được đăng lần đầu trên Wisconsin Lutheran Quarterly, Tập 122, Số 4 (Mùa thu 2025).

Câu Kinh Thánh được trích dẫn theo bản Kinh Thánh Truyền Thống 1925 (VIE1925).