Bài viết

Ngài đến để làm ứng nghiệm lời tiên tri

Phần 1/2

Mục sư Tiến sĩ John C. Lawrenz

Trình bày lần đầu tại một hội thảo chuyên đề ở Dr. Martin Luther College, năm 1993 · Phần 1 · Phần 2

Các Cơ Đốc nhân có chung một điều này: họ biết rằng Chúa Giê-xu Christ là tất cả đối với họ. Lần đến thứ nhất của Ngài làm cho mọi sự trở nên có ý nghĩa. Lần đến thứ hai của Ngài sẽ giải quyết mọi vấn đề. Từ cõi đời đời, Đức Chúa Cha đã hoạch định sự đến của Con Ngài. Đức Chúa Con đã vâng phục làm theo đúng kịch bản của Đức Chúa Cha. Đức Chúa Trời Thánh Linh không ngừng cho thế gian biết điều đó qua miệng của những con người. Các sứ đồ đã làm chứng rằng: “khi chúng tôi đã làm cho anh em biết quyền-phép và sự đến của Đức Chúa Jêsus-Christ chúng ta, thì chẳng phải là theo những chuyện khéo đặt-để” (2 Phi-e-rơ 1:16). Là những chứng nhân tận mắt, họ trao cho chúng ta những sự kiện chắc chắn “về mọi điều Đức Chúa Jêsus đã làm và dạy từ ban đầu, cho đến ngày Ngài được cất lên trời, sau khi Ngài cậy Đức Thánh-Linh mà răn-dạy các sứ-đồ Ngài đã chọn” (Công vụ 1:1-2). Tuy nhiên, lời chứng tận mắt của các sứ đồ chỉ là một trong hai lời chứng mà chúng ta có để củng cố và xác nhận đức tin mình. Như Phi-e-rơ viết: “chúng tôi càng tin lời các đấng tiên-tri chắc-chắn hơn” (2 Phi-e-rơ 1:19). Chúng ta có lời tiên tri đã được ứng nghiệm.

Lời tiên tri vừa rao truyền vừa báo trước, vì thế mới có câu cách ngôn: tiên tri là người nói ra, và cũng là người nói trước. Khi rao truyền, lời tiên tri vững chắc như đá.1 Nó bao hàm những lẽ thật vĩ đại về tội lỗi của loài người và ân điển của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, khi báo trước, lời tiên tri lại chưa trọn vẹn, dù vẫn vững chắc không kém chút nào. Lời tiên tri đòi hỏi sự ứng nghiệm. Cho đến khi Chúa Giê-xu giáng sinh, cuộc đời và công việc của Ngài vẫn còn là điều “chưa đến”. Đối với các tiên tri, chỉ cần tin rằng tình yêu của Đức Chúa Trời, dù chưa được bày tỏ trong mọi sự trọn vẹn của nó, cũng chắc chắn như chính sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, là đủ.

Thế nhưng, cả Môi-se, Ê-sai lẫn Đa-vít đều không có được bức tranh trọn vẹn. Khi những người này nói tiên tri về một Đấng Cứu Rỗi chưa đến, đức tin của họ đang vươn tới. Các tiên tri khao khát được thấy và nghe Đấng Cứu Rỗi của mình trong sự mặc khải trọn vẹn của Ngài. Trong sự khôn ngoan của Ngài, Đức Chúa Trời đã để lòng khao khát ấy của các tiên tri chưa được đáp ứng. Điều này có nghĩa là lời của các tiên tri chỉ là những lời mơ hồ, rời rạc hay sao? Không. Môi-se, Ê-sai, Đa-vít và các tiên tri khác không phải là những người mò mẫm bám víu vào những điều viển vông. Thánh Linh của Đấng Christ đã hành động trong họ. Các tiên tri Cựu Ước “đã tìm-tòi suy-xét… tìm cho biết thời-kỳ nào và thời-kỳ cách nào mà Thánh-Linh Đấng Christ ở trong lòng mình đã chỉ cho” (1 Phi-e-rơ 1:10-11).

Lời tiên tri theo kiểu của Đức Chúa Trời không chỉ là lời dự đoán của một người dự báo thời tiết về thời tiết ngày mai. Lời của một tiên tri được đo lường bằng một phép thử đơn giản, được nêu trong Phục Truyền Luật Lệ Ký 18:14-22, đặc biệt là câu 21 và 22. Nếu một tiên tri báo trước chính xác, thì Đức Chúa Trời đã phán. Nhưng nếu một sứ điệp được rao truyền nhân danh Chúa mà không xảy ra, thì Đức Chúa Trời không ở với tiên tri ấy, và không được tin lời của tiên tri ấy. Qua nhiều năm tháng, Đức Chúa Trời đã ghép nên một bức tranh khảm về những điều sẽ đến, từng lời tiên tri một. Cuối cùng, đã có đủ để những người có đức tin nhận ra Chúa Giê-xu đúng như Ngài là khi Ngài đến.

Chính Chúa Giê-xu cũng là một tiên tri. Tuy nhiên, vì Ngài là Đấng Tiên Tri, nên Ngài khác hẳn những tiên tri khác. Giống như họ, Ngài rao truyền. Khác với họ, Ngài làm ứng nghiệm. Chúa Giê-xu biết Ngài là ai và Ngài đến để làm gì. Tác giả thư Hê-bơ-rơ cho chúng ta biết: “Đấng Christ khi vào thế-gian, phán rằng… ‘Hỡi Đức Chúa Trời, nầy tôi đến — Trong sách có chép về tôi — Tôi đến để làm theo ý-muốn Chúa’” (Hê-bơ-rơ 10:5, 7; trích từ Thi Thiên 40:6-8). Ngài là Đức Chúa Trời trong xác thịt loài người, là chứng nhân hoàn hảo để bày tỏ tình yêu hoàn hảo của Đức Chúa Trời. Ngài biết Ngài chính là Đấng mà các tiên tri đã trông đợi. Chúa Giê-xu phán: “Các ngươi đừng tưởng ta đến đặng phá luật-pháp hay là lời tiên-tri; ta đến, không phải để phá, song để làm cho trọn” (Ma-thi-ơ 5:17). Chúa Giê-xu muốn thế gian biết rằng Ngài là sự xác nhận cho tất cả những gì các tiên tri đã viết. Trên đường đến Ê-ma-út, Chúa Giê-xu đã “cắt nghĩa cho hai người đó những lời chỉ về Ngài trong cả Kinh-thánh” (Lu-ca 24:27). Chúa Giê-xu bắt đầu từ Môi-se và đi qua hết thảy các tiên tri. Ngài có dư thời gian để làm điều đó. Quãng đường bảy dặm từ Giê-ru-sa-lem đến Ê-ma-út có lẽ mất khoảng hai giờ đi bộ. Vào chiều tối ngày Phục Sinh, Chúa Giê-xu nhắc nhở nhóm môn đồ thân cận của Ngài rằng “mọi sự đã chép về ta trong luật-pháp Môi-se, các sách tiên-tri, cùng các thi-thiên phải được ứng-nghiệm” (Lu-ca 24:44). Trước đó, Ngài đã phán cách mạnh mẽ: “Vì ta nói thật cùng các ngươi, đương khi trời đất chưa qua đi, thì một chấm một nét trong luật-pháp cũng không qua đi được cho đến khi mọi sự được trọn” (Ma-thi-ơ 5:18).

Các môn đồ có dễ dàng kết nối lời tiên tri với sự ứng nghiệm không? Không phải ngay lập tức! Chúa Giê-xu đã quở trách những người theo Ngài vì họ “có lòng chậm tin lời các đấng tiên-tri nói” (Lu-ca 24:25). Giống như các tiên tri, các sứ đồ cần Thánh Linh của Đấng Christ mở trí cho họ. Tuy nhiên, một khi mối liên hệ giữa lời tiên tri và Chúa Giê-xu Christ đã được thiết lập, sự ứng nghiệm của lời tiên tri trở thành một sức mạnh quý báu và đầy năng lực trong sự dạy dỗ của các sứ đồ. Sứ đồ Phao-lô viết: “Vả, mọi sự đã chép từ xưa đều để dạy-dỗ chúng ta, hầu cho bởi sự nhịn-nhục và sự yên-ủi của Kinh-thánh dạy mà chúng ta được sự trông-cậy” (Rô-ma 15:4). Phi-e-rơ xem lời tiên tri đã được ứng nghiệm “như cái đèn soi-sáng trong nơi tối-tăm” (2 Phi-e-rơ 1:19).

Tân Ước đầy dẫy những câu trích dẫn và những lời ám chỉ Cựu Ước, kết nối Chúa Giê-xu với lời tiên tri. Cách các sứ đồ sử dụng Cựu Ước có thể khác nhau. Ma-thi-ơ và các tác giả Phúc Âm khác đã hàng chục lần lưu ý đến lời tiên tri và sự ứng nghiệm bằng những cụm từ dẫn nhập như “vậy là ứng-nghiệm lời đấng tiên-tri đã nói” hoặc “vì có lời chép rằng”. Theo sau những lời này là các câu trích dẫn trực tiếp. Có hơn bốn chục câu trích dẫn như vậy trong các sách Phúc Âm và sách Công vụ. Phi-e-rơ và Giăng đã trích Thi Thiên 118:22 trong Công vụ 4:11, “hòn đá bị các ông xây nhà bỏ ra, rồi trở nên hòn đá góc nhà”, để khẳng định mạnh mẽ trước Tòa Công luận điều người Do Thái đã làm và điều Đức Chúa Trời đã làm nên từ đó. Trong Công vụ 7, Ê-tiên đã dùng các câu chuyện lịch sử của Cựu Ước để tự bào chữa trước lời cáo buộc rằng ông chống lại Luật pháp và Đền Thờ. Phi-líp, người cùng làm chấp sự với ông, đã giải nghĩa Ê-sai 53 lấy Đấng Christ làm trung tâm cho người Ê-thi-ô-bi (Công vụ 8:32-33). Ngoài các câu trích dẫn trực tiếp, Tân Ước còn vang vọng Cựu Ước qua việc lựa chọn từ ngữ và cụm từ. Một ví dụ điển hình là tiếng phán từ trời trong sự hóa hình (Ma-thi-ơ 17:5). “Nầy là Con yêu-dấu của ta” được lấy từ Thi Thiên 2:7; “đẹp lòng ta mọi đường” là từ Ê-sai 42:1; và những lời kết thúc, “hãy nghe lời Con đó”, là từ Phục Truyền Luật Lệ Ký 18:15.

Còn chúng ta thì sao, những người sống giữa lần đến thứ nhất và lần đến thứ hai của Chúa Giê-xu? Chúng ta có Lời của các sứ đồ như một lời chứng không thể bác bỏ về Chúa Giê-xu của lịch sử. Đức tin của chúng ta, được sinh ra bởi Lời, được củng cố mỗi lần chúng ta nghe lời chứng của Kinh Thánh về sự giáng sinh, sự chết, sự sống lại và sự thăng thiên của Chúa chúng ta. Chúng ta tin, dù Chúa Giê-xu không ở với chúng ta trong xác thịt như Ngài đã từng ở với các môn đồ. Tại sao chúng ta tin? Vì Thánh Linh của Đấng Christ thuyết phục chúng ta rằng Chúa Giê-xu đã sống, đã chết và đã sống lại vì chúng ta.

Có người có thể nói rằng cũng có những người khác tự nhận mình có một sứ mạng thuộc linh. Họ cũng là những nhân vật lịch sử! Còn Phật Thích Ca và Mô-ha-mét thì sao? Còn Zoroaster và Khổng Tử thì sao? Còn Joseph Smith và David Koresh thì sao? Các tôn giáo ngoài Cơ Đốc giáo đã đòi quyền trên linh hồn con người dựa trên đạo đức, sức lôi cuốn, trí tuệ sắc bén hay sự nhạy cảm đạo đức cao cả của những con người phi thường thỉnh thoảng xuất hiện trong lịch sử. Cơ Đốc giáo thì khác. Đó là sự mặc khải chân thật của Đức Chúa Trời chân thật qua một con người chân thật, Đấng mà sự đến của Ngài đã được những người phát ngôn do Đức Chúa Trời soi dẫn báo trước ngay từ buổi đầu của lịch sử. Chúa Giê-xu Christ là duy nhất. Ngài là Ngôi Lời nhập thể, như chương đầu của sách Phúc Âm Giăng tuyên bố. Các tôn giáo do con người tạo ra định nghĩa Đức Chúa Trời bằng lời lẽ loài người, được nói ra bởi miệng lưỡi loài người. Chỉ một mình Đức Chúa Trời định nghĩa chính Ngài. Ngài là Đấng “tự-hữu hằng-hữu” trong Xuất Ê-díp-tô Ký 3:14. Những lời tiên tri về Ngôi Lời nhập thể đã dọn đường cho cuộc đời độc nhất vô nhị của Chúa Giê-xu. Lời chứng của các sứ đồ đóng sập cửa trước mọi nghi ngờ rằng Ngài là duy nhất. “Chúng tôi càng tin lời các đấng tiên-tri chắc-chắn hơn”, và chúng ta “nên chú-ý lời đó, như cái đèn soi-sáng trong nơi tối-tăm” (2 Phi-e-rơ 1:19).

Nhưng giờ đây câu hỏi được đặt ra: làm thế nào chúng ta chú ý đến các tiên tri khi họ nói về Chúa Giê-xu Christ? Làm thế nào chúng ta giữ cho ngọn đèn lẽ thật tiên tri luôn cháy sáng? Vì bản tính tội lỗi của chúng ta chiến đấu chống lại Thánh Linh của Đấng Christ trong chúng ta, chúng ta có thể đặt một câu hỏi tốt hơn: Làm thế nào để chúng ta khỏi dập tắt ánh sáng của lời tiên tri?

Bỏ qua mối liên hệ giữa các tiên tri và các sứ đồ sẽ dập tắt ánh sáng của lời tiên tri. Kinh Thánh là một thể thống nhất. Như hai con mắt trên đầu chúng ta, mỗi Ước đều nhìn thấy Đấng Christ. Một Ước báo trước. Ước kia làm ứng nghiệm. Cùng nhau, hai Ước cho chúng ta “khả năng nhìn chiều sâu” thuộc linh. Những lời tiên tri trong Cựu Ước giống như những sợi chỉ của một tấm thảm dệt lớn hay những chấm sơn trên khung vải của người họa sĩ. Hãy dí mũi vào tác phẩm nghệ thuật thì chẳng thấy rõ được bao nhiêu. Hãy lùi lại thì quang cảnh trở nên rõ ràng và đầy kinh ngạc. Khi chúng ta lùi lại và chú ý đến cả lời tiên tri lẫn sự ứng nghiệm, chúng ta có thể cùng với tiên tri Ê-sai và sứ đồ Phao-lô nói rằng: “Những kẻ chưa được tin báo về Ngài thì sẽ thấy Ngài, Những kẻ chưa nghe nói về Ngài thì sẽ biết Ngài” (Rô-ma 15:21; Ê-sai 52:15).

Một cách khác để dập tắt ánh sáng tiên tri là dùng Cựu Ước để định nghĩa Tân Ước, thay vì ngược lại. Chúng ta biết rằng một trong hai mắt của chúng ta là mắt thuận. Kinh Thánh cũng vậy. Về mối quan hệ giao ước mà Đức Chúa Trời đã thiết lập với Y-sơ-ra-ên tại núi Si-na-i, Tân Ước tuyên bố: “Đấng Christ là sự cuối-cùng của luật-pháp, đặng xưng mọi kẻ tin là công-bình” (Rô-ma 10:4). Việc Đức Chúa Trời xưng tội nhân là công chính bởi đức tin, không bởi việc làm, là cốt lõi của vấn đề. Câu chuyện Cựu Ước về một Y-sơ-ra-ên bất trung là một bằng chứng khổng lồ rằng loài người không thể giữ lời cam kết trung tín với Đức Chúa Trời. Chúa Giê-xu không đến để làm một nhà lập pháp mới và đặt nhân loại dưới ách một lần nữa. Trái lại, Ngài đến như con người duy nhất trong toàn bộ lịch sử có thể thánh khiết và giữ mình thánh khiết. Ngài đã làm điều đó để Đức Chúa Trời có thể kể sự công chính của Con Ngài cho mọi người như một món quà nhưng không. Lời tiên tri giống như một khung tranh lộng lẫy bao quanh bức chân dung tuyệt đẹp của Đấng Cứu Rỗi. Đó là một bệ đỡ tuyệt vời cho viên ngọc rực rỡ là cuộc đời hoàn hảo của Đấng Christ.

Kinh Thánh đưa ra cho chúng ta một minh họa của chính mình. Cựu Ước là cái bóng, còn Tân Ước là thực thể. Phao-lô nói như vậy trong Cô-lô-se 2:17 khi bàn về các nghi lễ Cựu Ước: “ấy đều chỉ là bóng của các việc sẽ tới, còn hình thì ở trong Đấng Christ.”2 Tác giả thư Hê-bơ-rơ (10:1) bàn về các của lễ huyết trong Cựu Ước, như Đức Chúa Trời đã truyền qua Môi-se. Những của lễ ấy “chỉ là bóng của sự tốt-lành ngày sau, không có hình thật của các vật”.3

Lẽ thật của Cựu Ước được mở ra trong Tân Ước. Lời của các tiên tri là những nụ hoa. Mọi phần của bông hoa đều có sẵn trong nụ, nhưng lẽ thật được gói chặt và phần nào bị che giấu. Lẽ thật chưa được nhìn thấy hay cảm nhận trọn vẹn cho đến khi hoa nở. Chúa Giê-xu là đóa hoa đã nở.

Thêm một cách khác nữa để dập tắt quyền năng của lời chứng tiên tri là can thiệp vào bản văn. Lời Chúa là lời sau cùng. Người viết đầu tiên và người viết sau cùng của Kinh Thánh, là Môi-se (Phục Truyền Luật Lệ Ký 4:2; 12:32) và Giăng (Khải Huyền 22:18-19), đã long trọng cảnh báo việc thêm bớt Lời Đức Chúa Trời. Chúng ta không bao giờ được tìm thấy trong sứ điệp của các tiên tri điều gì về Đấng Christ mà thêm vào những gì các sứ đồ đã rao truyền rõ ràng. Chúng ta cũng không được bớt đi khỏi các tiên tri toàn bộ sự thông hiểu được soi dẫn mà họ, nhờ sự thúc giục của Thánh Linh, đã đem đến cho sự mầu nhiệm của Đấng Christ.

Bao nhiêu phần của Cựu Ước là lời tiên tri? Tất cả? Phần lớn? Một số phần? Chỉ những phân đoạn được Tân Ước xác định rõ là lời tiên tri? Cách chúng ta trả lời câu hỏi này có ảnh hưởng đến việc giải nghĩa.

Phao-lô khẳng định rằng nhà của Đức Chúa Trời “đã được dựng lên trên nền của các sứ-đồ cùng các đấng tiên-tri, chính Đức Chúa Jêsus-Christ là đá góc nhà” (Ê-phê-sô 2:20). Như vậy, Phao-lô dạy rằng có hai nhóm tác giả đã đặt nền cho đức tin chúng ta. Các sứ đồ là những chứng nhân. Nhưng các tiên tri cũng vậy. Các sứ đồ biết rằng lời tiên tri không chỉ giới hạn trong mười sáu sách tiên tri trước tác (từ Ê-sai đến Ma-la-chi) mà chúng ta thường lập tức đồng nhất với lời tiên tri. Tác giả thư Hê-bơ-rơ nói: “Môi-se, người đã trung-tín trong cả nhà Chúa, như một kẻ tôi-tớ, gọi đến làm chứng về điều ngày sau sẽ được rao-giảng” (Hê-bơ-rơ 3:5). Sứ đồ Phi-e-rơ khẳng định: “Hết thảy các tiên-tri đã phán, từ Sa-mu-ên và các đấng nối theo người, cũng đều có rao-truyền những ngày nầy nữa… Các ngươi là dòng-dõi của các đấng tiên-tri…” (Công vụ 3:24-25). Về Đa-vít, Phi-e-rơ nói: “vì người là đấng tiên-tri, và biết Đức Chúa Trời đã thề hứa với người sẽ cho một hậu-tự người ngồi trên ngai mình, thì người đã thấy trước và nói trước về sự sống lại của Đấng Christ…” (Công vụ 2:30-31). Môi-se, Sa-mu-ên và Đa-vít là những đại diện xứng hợp cho những người của Đức Chúa Trời đã lên tiếng từ cả ba phần của Kinh Thánh Hê-bơ-rơ: Luật pháp, các Sách Tiên tri và các Sách Văn thơ.

Nói rằng toàn bộ Cựu Ước là lời tiên tri có phải là đi quá xa không? Chẳng phải ba mươi chín sách Cựu Ước chứa đựng lịch sử, tiểu sử, sự dạy dỗ đạo đức, các giấc mơ, những cuộc đối thoại và nhiều điều khác nữa sao? Đúng vậy. Những yếu tố thuộc về con người này báo trước nhân tính trọn vẹn của Chúa Giê-xu, đặc biệt là những chi tiết không được ghi chép mà sứ đồ Giăng cho chúng ta biết có thể viết thành sách chứa đầy cả thế gian (Giăng 21:25). Chúng ta xác tín rằng “sự đầy-dẫy của bổn-tánh Đức Chúa Trời thảy đều ở trong Đấng ấy như có hình” (Cô-lô-se 2:9). Hơn nữa, chúng ta tin lời sứ đồ Phao-lô khi ông nói: “Anh em lại nhờ Ngài mà có được đầy-dẫy mọi sự” (Cô-lô-se 2:10). Không, không phải là đi quá xa khi nói rằng mọi phần của Kinh Thánh được soi dẫn, bằng cách này hay cách khác, đều chỉ về Đấng Christ, và qua Lời Đức Chúa Trời, cả Cựu Ước lẫn Tân Ước, chúng ta có thể nhận lấy sự đầy dẫy đã được hứa mà Đức Chúa Trời muốn chúng ta có trong Đấng Christ. Chúng ta có lời khích lệ này: “hãy đứng vững trong những sự con đã đem lòng tin chắc mà học và nhận lấy,… Kinh-thánh vốn có thể khiến con khôn-ngoan để được cứu bởi đức-tin trong Đức Chúa Jêsus-Christ” (2 Ti-mô-thê 3:14-15). Luther đã viết trong bài giải kinh 2 Sa-mu-ên 23:1-5:

Chúng ta, những Cơ Đốc nhân, có được ý nghĩa và nội dung của Kinh Thánh vì chúng ta có Tân Ước, tức là Chúa Giê-xu Christ, Đấng đã được hứa trong Cựu Ước, về sau đã hiện đến và đem theo Ngài ánh sáng cùng ý nghĩa thật của Kinh Thánh… Vì đó là điểm tối quan trọng mà mọi sự đều tùy thuộc vào đó. Ai không thật sự và đúng đắn có, hoặc không muốn có, Người này, là Đấng được gọi là Chúa Giê-xu Christ, Con Đức Chúa Trời, Đấng mà chúng ta, những Cơ Đốc nhân, rao giảng, thì hãy buông tay khỏi Kinh Thánh — đó là lời khuyên của tôi. Chắc chắn người ấy sẽ chẳng đi đến đâu. Càng nghiên cứu, người ấy càng trở nên mù lòa và ngu muội hơn, dù người ấy là người Do Thái, người Tác-ta, người Thổ Nhĩ Kỳ, Cơ Đốc nhân, hay bất cứ danh xưng nào người ấy muốn tự gọi mình.4

Không nhất thiết mọi phần của Cựu Ước đều mang tính tiên tri ở cùng một mức độ. Một số điều các tiên tri nói sẽ nổi bật như những ngọn đèn pha. Những điều khác chỉ in một cái bóng mờ nhạt. Phần đóng góp của các tiên tri không khác mấy so với phần đóng góp của các chi thể hợp thành Hội Thánh, là thân thể của Đấng Christ. Mỗi chi thể là một phần của thân thể, nhưng không phải chi thể nào cũng là mắt hay tai. Một số chi thể đảm nhận những chức năng nhỏ hơn, nhưng vẫn quan trọng. Khung tranh mà Cựu Ước đặt Đấng Christ vào có nhiều góc cạnh. Bệ đỡ có nhiều mặt. Nụ hoa có nhiều cánh. Cái bóng có nhiều đường viền.

Luôn luôn là khôn ngoan khi bắt đầu với những phân đoạn mà Tân Ước xác định là sự ứng nghiệm của lời tiên tri. Đây là những ngọn đèn pha nổi bật. Chúng là những ánh sáng nhờ đó chúng ta học cách cẩn thận tìm kiếm trong phần còn lại của Cựu Ước. Những lời tiên tri đã được xác định cho chúng ta thấy Đức Thánh Linh hành động như một nhà giải nghĩa. Có một điều sẽ gây ấn tượng với chúng ta ngay lập tức: phần lớn các câu trích dẫn đều liên quan đến thân vị và công việc của Chúa Giê-xu. Đôi khi chúng ta nắm bắt được ngay mối liên hệ giữa lời tiên tri và sự ứng nghiệm. Đôi khi sự giải nghĩa của Đức Thánh Linh không như chúng ta mong đợi. Điều này nhấn mạnh lý do tại sao các tiên tri phải siêng năng tìm tòi những lời tiên tri của chính mình.

Những lời tiên tri được trích dẫn trong Tân Ước đề cập đến mọi phương diện của Đấng Cứu Rỗi, chẳng hạn như Chúa Giê-xu là ai, Ngài đến để làm gì, Ngài sẽ xuất hiện ở đâu, chương trình của Đức Chúa Trời sẽ được thực hiện khi nào và bằng cách nào, và tại sao Chúa Giê-xu lại quan trọng đến thế. Một vài ví dụ sẽ minh họa điều này. Theo Đa-vít, Chúa Giê-xu vừa là Chúa là Đức Chúa Trời (Thi Thiên 110:1; Ma-thi-ơ 22:44) vừa là người thật (Thi Thiên 8:4-6; Hê-bơ-rơ 2:6-8), nhưng theo Ê-sai thì Ngài không hề phạm tội (53:9; 1 Phi-e-rơ 2:22). Chức vụ của Chúa Giê-xu sẽ diễn ra tại Ga-li-lê như Ê-sai đã nói (9:1-2; Ma-thi-ơ 4:15-16).5 Tuy nhiên, theo Xa-cha-ri, Đấng Cứu Rỗi sẽ xuất hiện tại Giê-ru-sa-lem (13:7; Ma-thi-ơ 26:31). Chúa Giê-xu đến để dạy dỗ nhân loại về đường lối của Đức Chúa Trời (Thi Thiên 78:2; Ma-thi-ơ 13:35), để gánh lấy những tật nguyền và bệnh tật của con người (Ê-sai 53:4; Ma-thi-ơ 8:17), và để chữa lành các thương tích của họ như Ê-sai đã báo trước (53:5; 1 Phi-e-rơ 2:24). Theo Xa-cha-ri, các môn đồ Ngài sẽ bỏ Ngài (13:7; Ma-thi-ơ 26:31) và để Ngài bị kẻ thù đâm (12:10; Giăng 19:37). Ngài sẽ bị treo trên cây, chịu rủa sả (Phục Truyền Luật Lệ Ký 21:23; Ga-la-ti 3:13).6 Dù vậy, không một cái xương nào của Ngài bị gãy (Thi Thiên 34:20; Giăng 19:36),7 và thân thể Ngài cũng không bị hư nát trong mồ mả (Thi Thiên 16:10; Công vụ 2:31). Trái lại, Ngài sẽ ngồi bên hữu Đức Chúa Trời trong vinh hiển (Thi Thiên 110:1; Công vụ 2:34). Sự cứu rỗi sẽ được bày tỏ trong những ngày sau rốt và đi kèm với sự tuôn đổ Đức Thánh Linh (Giô-ên 2:28-32; Công vụ 2:17-21). Đến lượt Ngài, Thánh Linh sẽ được tuôn đổ qua sự rao giảng, theo lời Ê-sai (61:1-2; Lu-ca 4:18-19). Vậy tại sao có sự tuôn đổ này? “Hết thảy các đấng tiên-tri đều làm chứng nầy về Ngài rằng hễ ai tin Ngài thì được sự tha tội vì danh Ngài” (Công vụ 10:43).

Khi đã nghiên cứu hết những lời tiên tri được trực tiếp gắn với Chúa Giê-xu, chúng ta đứng vào hàng ngũ các tiên tri, là những người “đã tìm-tòi suy-xét… tìm cho biết thời-kỳ nào và thời-kỳ cách nào mà Thánh-Linh Đấng Christ ở trong lòng mình đã chỉ cho” (1 Phi-e-rơ 1:10-11). Trong một bài viết ngắn, chúng ta chỉ có thể đưa ra một vài mẫu về những gì có thể tìm thấy. Chúng ta sẽ dùng lời của Điều thứ Hai trong Bài Tín Điều Các Sứ Đồ. Đó là bản tóm lược giáo lý của các sứ đồ về Chúa Giê-xu. Bên cạnh những từ ngữ và cụm từ mô tả Chúa Giê-xu trong Bài Tín Điều, chúng ta sẽ tập hợp những khái niệm và chủ đề trong Cựu Ước đã báo trước lẽ thật trọn vẹn của sứ điệp Tân Ước.

Chúng ta tin Giê-xu. Giê-xu là danh đặc biệt mà Đức Chúa Trời đã chọn cho con trai của Ma-ri (Lu-ca 1:31).8 Danh ấy có nghĩa là “Chúa cứu rỗi”. Cựu Ước là một chuỗi những hành động cứu rỗi của Chúa: Nô-ê và gia đình được bảo toàn trong tàu (Sáng Thế Ký 6-9), dòng dõi Gia-cốp được dẫn qua Biển Đỏ (Xuất Ê-díp-tô Ký 14), Y-sơ-ra-ên được chở trên cánh chim ưng đến núi của Đức Chúa Trời (Xuất Ê-díp-tô Ký 19:4) và vào Đất Hứa như bầy chiên được người chăn dẫn dắt (Thi Thiên 78:52-55), thầy phù thủy Ba-la-am bị ngăn trở trong sứ mạng rủa sả dân Đức Chúa Trời (Dân Số Ký 22-24), Giô-suê tại A-gia-lôn khi mặt trời dừng lại (Giô-suê 10) và trong lời từ biệt khi ông nhắc lại những hành động cứu rỗi của Đức Chúa Trời trong quá khứ (Giô-suê 24),9 Ghê-đê-ôn chiến thắng tại Mô-rê chỉ với một nhúm người (Các Quan Xét 7), Sa-mu-ên xoay chuyển vận mệnh của Y-sơ-ra-ên tại Ê-bên-Ê-xe (1 Sa-mu-ên 7), Đa-vít đánh hạ Gô-li-át (1 Sa-mu-ên 17), Ê-xơ-tê trong lễ Phu-rim, Đa-ni-ên trong hang sư tử (Đa-ni-ên 6), và dân sót của Y-sơ-ra-ên được đem về Si-ôn trong thời E-xơ-ra và Nê-hê-mi.

Chúng ta tin Giê-xu Christ. Christ có nghĩa là “Đấng được xức dầu”. Chúa Giê-xu được kêu gọi để hoàn tất mọi điều mà những người được xức dầu trong Cựu Ước đã cố gắng làm nhưng thất bại. Chức tế lễ của A-rôn đã phục vụ nhu cầu thuộc linh của dân Đức Chúa Trời tại Si-lô trong gần 400 năm. Các thầy tế lễ được xức dầu để dâng của lễ (Hê-bơ-rơ 5:1), để phân biệt điều tinh sạch theo nghi lễ với điều không tinh sạch (Lê-vi Ký 10:10), và để dạy dỗ dân chúng (Lê-vi Ký 10:11; Ma-la-chi 2:7). Thế nhưng các thầy tế lễ không đạt được tiêu chuẩn trọn vẹn của Đức Chúa Trời. Các thầy tế lễ đều là tội nhân, từ A-rôn, người đã đúc bò con vàng (Xuất Ê-díp-tô Ký 32:1-6), cho đến các con trai của Hê-li, những kẻ đã làm ô uế nơi thánh (1 Sa-mu-ên 2:12-17, 22, 25).10

Đức Chúa Trời xức dầu cho các vua để chăn dắt dân tộc (2 Sa-mu-ên 5:2; 7:7) và làm người gìn giữ lẽ thật của Đức Chúa Trời (Phục Truyền Luật Lệ Ký 17:18-20). Một số vua như Đa-vít và Sa-lô-môn đã phục vụ nhu cầu thuộc linh của dân sự, nhưng tất cả đều có đôi chân bằng đất sét. Tội của Đa-vít với Bát-Sê-ba và việc ông giết U-ri đã châm ngòi cho một loạt cuộc nổi loạn xé nát cơ cấu của vương quốc. Dù Sa-lô-môn khôn ngoan đến đâu, ông đã không cai trị tốt khi vi phạm ba điều cấm mà Môi-se (Phục Truyền Luật Lệ Ký 7:25) và Giô-suê (Giô-suê 23:7, 12) đã truyền, tức là cấm kết hôn với dân ngoại, cấm lập giao ước với người Ca-na-an, và cấm thờ hình tượng. Sau-lơ, vị vua đầu tiên của Y-sơ-ra-ên, đã tự sát (1 Sa-mu-ên 31:4). Sê-đê-kia, vị vua cuối cùng của Giu-đa, bị móc mắt sau khi chứng kiến dòng dõi hoàng tộc bị tàn sát, trong khi Giê-ru-sa-lem và Đền Thờ còn cháy âm ỉ (2 Các Vua 25:7).

Các tiên tri được xức dầu để nói lẽ thật, toàn bộ lẽ thật, và không gì khác ngoài lẽ thật (1 Các Vua 17:24; 22:16). Trong những năm cuối của thời Cựu Ước, các tiên tri nổi bật như những ngọn tháp. Họ rao giảng về tội lỗi và công bố ân điển để giữ cho một Y-sơ-ra-ên bại hoại, thờ hình tượng khỏi phải gánh chịu những sự rủa sả của Luật pháp mà họ hoàn toàn đáng phải chịu. Tuy nhiên, các tiên tri đã không ngăn được Y-sơ-ra-ên trượt dài đến sự hủy diệt. Sự thất bại của những người này, và của tất cả những “christ” trong Cựu Ước, đã dạy Y-sơ-ra-ên trông đợi một Đấng Christ tốt hơn sẽ đến.

Chúng ta tin Giê-xu Christ là Con độc sanh của Đức Chúa Trời… Nhân danh Đức Chúa Trời, tiên tri Ô-sê đã nói: “Khi Y-sơ-ra-ên còn thơ-ấu, ta yêu-dấu nó; ta gọi con trai ta ra khỏi Ê-díp-tô. Các tiên-tri càng gọi nó chừng nào, nó càng trốn-tránh chừng nấy” (Ô-sê 11:1-2). Chúa đã chọn Y-sơ-ra-ên từ giữa muôn dân để bày tỏ ý muốn của Ngài là đưa loài người vào gia đình Ngài. Qua giao ước được lập tại Si-na-i, Cha trên trời đã biệt riêng Y-sơ-ra-ên làm con trưởng nam giữa mọi dân tộc (Xuất Ê-díp-tô Ký 4:22; Giê-rê-mi 31:9).

Lẽ thật này được làm mới trong mỗi thế hệ qua việc chuộc con trưởng nam (Xuất Ê-díp-tô Ký 13:11-13). Khi rời khỏi Ê-díp-tô, các con trưởng nam của các chi phái được chuộc bằng cách biệt riêng một người trong chi phái Lê-vi thay cho mỗi con trưởng nam. Vì không đủ người Lê-vi, một số con trưởng nam phải được chuộc bằng năm siếc-lơ bạc (Dân Số Ký 3:11-13, 41). Tiền bạc tiếp tục được dùng để chuộc con trưởng nam qua các thế hệ sau đó.11 Người Lê-vi vẫn là “giá chuộc” trong suốt phần còn lại của thời Cựu Ước. Nhiệm vụ đặc biệt của họ là phục vụ nơi bàn thờ, đốt của lễ và dạy dỗ luật pháp (Phục Truyền Luật Lệ Ký 33:8-10). “Con trưởng nam” cũng là thuật ngữ được dùng để chỉ Đấng Mê-si, người thừa kế ngai Đa-vít (Thi Thiên 89:27).

Dù khái niệm con trưởng nam mạnh mẽ đến đâu trong Cựu Ước, cả người Lê-vi lẫn dân Y-sơ-ra-ên cũng chỉ có thể báo trước Con một và duy nhất của Đức Chúa Trời mà thôi. Y-sơ-ra-ên không thể đáp lại tình yêu hoàn hảo của Cha bằng một tình yêu hoàn hảo của chính mình. Ngay từ đầu, Y-sơ-ra-ên đã tỏ ra là đứa con hoang đàng. “Tại Ê-díp-tô tổ-phụ chúng tôi không chăm-chỉ về các phép lạ Chúa, Cũng chẳng nhớ lại sự nhân-từ dư-dật của Chúa; Nhưng lại phản-nghịch bên biển, tức là Biển-đỏ” (Thi Thiên 106:7). Các chương đầu của sách Các Quan Xét cho chúng ta biết thế hệ này đến thế hệ khác đã lìa bỏ đức tin như thế nào. Sự thất bại của “hàng giáo phẩm” Lê-vi trong Y-sơ-ra-ên được làm nổi bật trong Các Quan Xét 17 đến 19. Về sau, mười chi phái đã làm nhục quyền trưởng nam của mình bằng cách quỳ lạy các bò con (1 Các Vua 12:28-30), điều mà tổ phụ họ đã từng làm tại núi Si-na-i (Xuất Ê-díp-tô Ký 32:4, 8). Các vương quốc Y-sơ-ra-ên và Giu-đa tỏ ra quá sùng đạo. Họ có vô số nghi lễ, của lễ và thần thánh. Thế nhưng các tiên tri lên án thứ tôn giáo do nhiều cha sinh ra này. Nó đã trôi dạt xa khỏi giao ước của Cha duy nhất. Nó không có lòng nhân ái của người cha. Thật vậy, Cha càng tuôn đổ tình yêu Ngài trên Y-sơ-ra-ên, thì “con trai” được chọn của Ngài càng đi lạc xa Ngài. Y-sơ-ra-ên ương ngạnh đã chứng minh rõ ràng rằng loài người tội lỗi không thể giữ giao ước với Đức Chúa Trời. Sự bất khả này là chủ đề của các chương đầu trong thư Phao-lô gửi cho người Rô-ma.

Chúa Giê-xu Christ, Con độc sanh của Cha, là con người duy nhất đã làm trọn luật pháp cách hoàn hảo (Hê-bơ-rơ 4:15; Rô-ma 5:17). Ngài là Con trưởng thật (Rô-ma 8:29) của cả cõi sáng tạo và của mọi tạo vật (Cô-lô-se 1:15-16), cũng là Đấng sanh đầu tiên từ trong kẻ chết (Khải Huyền 1:5). Qua công việc của Ngài, Chúa Giê-xu tạo nên “Hội-thánh của những con trưởng được ghi tên trong các từng trời” (Hê-bơ-rơ 12:23). Ma-thi-ơ (2:15) chỉ cho chúng ta thấy Cha trên trời đã gọi Con trưởng và Con độc sanh của Ngài ra khỏi Ê-díp-tô như thế nào, cũng như Ngài đã từng gọi Y-sơ-ra-ên. Người Con này đã thành công ở chỗ Y-sơ-ra-ên và người Lê-vi đã thất bại. Chúa Giê-xu là Đấng “soi khắp thiên-hạ” và “làm vinh-hiển cho dân Y-sơ-ra-ên là dân Ngài” (Lu-ca 2:32).

Xem tiếp tại Phần 2 →

Chú thích

1 Tiếng Anh dùng thì tương lai của động từ để diễn tả điều được báo trước. Ngữ pháp tiếng Hê-bơ-rơ thì không. Hệ thống động từ của tiếng Hê-bơ-rơ vận hành với các khái niệm chắc chắn và không chắc chắn. Trong hai khái niệm đó, sự chắc chắn là phương tiện được ưu tiên để diễn đạt lời tiên tri.

2 Chữ Hy Lạp σκιά, “bóng”, là hình ảnh do ánh sáng bị chặn lại tạo nên, cho thấy đường nét mà không có chi tiết, còn chữ Hy Lạp σῶμα, “hình” (thực thể), là thân thể vật chất.

3 Ở đây, chữ Hy Lạp chỉ thực thể (“hình thật”) là εἰκών, tức chính hình ảnh thật, đối lại với vẻ giống bề ngoài.

4 Trích trong Oswald & Robbert, Luther as Interpreter of Scripture (Concordia, 1982), tr. 121.

5 Ê-sai báo trước rằng ánh sáng của Đấng Mê-si sẽ xuất hiện tại xứ Sa-bu-lôn và Nép-ta-li, tức là Ga-li-lê. Ma-thi-ơ trích dẫn Ê-sai khi Chúa Giê-xu dời từ Na-xa-rét (thuộc Sa-bu-lôn) đến Ca-bê-na-um (thuộc Nép-ta-li).

6 Thập tự giá như một phương tiện cứu rỗi, chứ không phải của sự sỉ nhục, cũng đã được báo trước. Môi-se đã treo một con rắn bằng đồng trong đồng vắng để cứu những người sắp chết (Dân Số Ký 21:8-9). Chúa Giê-xu áp dụng điều này cho món quà sự sống đời đời được thực hiện qua sự chịu đóng đinh của Ngài (Giăng 3:14-15).

7 Xương của chiên con Lễ Vượt Qua không được bẻ gãy (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:46; Dân Số Ký 9:12).

8 Trong suốt nhiều thế kỷ trước khi Chúa Giê-xu giáng sinh, Đức Chúa Trời đã can thiệp để đặt tên hoặc đổi tên, thường gắn liền với những biến cố then chốt trong lịch sử cứu rỗi. Chúa đã ban tên mới cho Áp-ra-ham, “cha của nhiều dân” (Sáng Thế Ký 17:5), cho Sa-ra, “công chúa [của các vua]” (Sáng Thế Ký 17:15), và cho Gia-cốp, “người vật lộn [với Đức Chúa Trời] và thắng” (Sáng Thế Ký 32:28). Tên của nhiều tín hữu Cựu Ước là những câu ngắn mang tính lời chứng, chẳng hạn như Ê-li, “Đức Chúa Trời tôi là Chúa”. Một thiên sứ đã đặt tên cho người đi trước Chúa Giê-xu là “Giăng”, nghĩa là “Đức Chúa Trời có lòng nhân từ” (Lu-ca 1:13, 60).

9 Trong lời từ biệt, Giô-suê hỏi Y-sơ-ra-ên có muốn giữ giao ước của Đức Chúa Trời không. Khi họ đáp có, Giô-suê nhấn mạnh với họ rằng sự thành công chỉ đến nhờ sự can thiệp của Đức Chúa Trời. Giô-suê nhắc lại việc Áp-ra-ham được gọi ra khỏi sự thờ hình tượng, việc Y-sơ-ra-ên thoát khỏi Ê-díp-tô, việc Ba-la-am bị ngăn trở, và cuộc chinh phục xứ Ca-na-an.

10 Kinh Thánh mô tả các nhà lãnh đạo cách trung thực, điều mà các nhà lãnh đạo thời cổ đại ở các nước ngoại bang hiếm khi làm. Sự thất bại của các nhà lãnh đạo Y-sơ-ra-ên tạo nên một sự tương phản có chủ đích với sự thành công trọn vẹn của Chúa Giê-xu, Đấng được xức dầu hoàn hảo.

11 Theo sách Mishnah, Berakot, viii, 8, việc này được thực hiện vào ngày thứ 40 sau khi một bé trai chào đời. Ma-ri và Giô-sép có lẽ đã theo tục lệ này khi dâng Chúa Giê-xu, Lu-ca 2:27.